Monday, 17/02/2020 - 13:28|
Chào mừng bạn đến với cổng thông tin điện tử của Trường THCS Nguyễn Công Trứ

Dạy học theo định hướng phát triển năng lực cho học sinh qua các tiết chương trình giáo dục địa phương Kon Tum ở bộ môn Ngữ văn 8

Xã hội ngày càng phát triển thì việc hình thành các kỹ năng, năng lực để đáp ứng những yêu cầu phát triển đó càng trở nên quan trọng và cần thiết,  nó trở thành một trong những vấn đề đáng quan tâm của toàn xã hội nói chung và trong hệ thống giáo dục nước nhà nói riêng.Trong định hướng đổi mới chương trình và sách giáo khoa giáo dục phổ thông sau năm 2018 đã nêu rõ: một trong những quan điểm nổi bật là phát triển chương trình theo định hướng năng lực.

Dạy học theo định hướng phát triển năng lực cho học sinh qua các tiết chương

trình giáo dục địa phương Kon Tum ở bộ môn Ngữ văn 8 nhằm giúp học sinh phát triển các năng lực chung và  năng lực  chuyên biệt của môn Ngữ văn; đồng thời tạo cơ hội cho học sinh tìm hiểu sâu hơn về mảng văn học, văn hóa Kon Tum (một vấn đề lâu nay chương trình môn Ngữ văn đưa vào nhà trường song thực tế còn bỏ ngỏ) giúp các em tự khẳng định năng lực của bản thân, yêu hơn mảnh đất và con người nơi mình đang sinh sống.

DẠY HỌC THEO ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC

CHO HỌC SINH QUA CÁC TIẾT CHƯƠNG TRÌNH GIÁO DỤC

ĐỊA PHƯƠNG KON TUM Ở BỘ MÔN NGỮ VĂN 8

 

         Xã hội ngày càng phát triển thì việc hình thành các kỹ năng, năng lực để đáp ứng những yêu cầu phát triển đó càng trở nên quan trọng và cần thiết, nó trở thành một trong những vấn đề đáng quan tâm của toàn xã hội nói chung và trong hệ thống giáo dục nước nhà nói riêng.Trong định hướng đổi mới chương trình và sách giáo khoa giáo dục phổ thông sau năm 2018 đã nêu rõ: một trong những quan điểm nổi bật là phát triển chương trình theo định hướng năng lực.

Năng lực được quan niệm là sự kết hợp một cách linh hoạt và có tổ chức kiến thức, kỹ năng với thái độ, tình cảm, giá trị, động cơ cá nhân,. nhằm đáp ứng hiệu quả một yêu cầu phức hợp của hoạt động trong bối cảnh nhất định. Năng lực thể hiện sự vận dụng kết hợp nhiều yếu tố (phẩm chất, kiến thức và kỹ năng) được thể hiện thông qua các hoạt động của cá nhân nhằm thực hiện một loại công việc nào đó. Năng lực có các yếu tố cơ bản mà mọi người lao động, mọi công dân đều cần phải có đó là các năng lực chung cốt lõi. Năng lực cốt lõi bao gồm những năng lực cơ bản: năng lực tự học, năng lực giải quyết vấn đề, năng lực sáng tạo, năng lực hợp tác, năng lực tự quản bản thân, năng lực giao tiếp,  năng lực tính toán, năng lực sử dụng công nghệ thông tin và truyền thông, năng lực thẩm mỹ, năng lực thể chất.

Môn Ngữ văn được coi là môn học công cụ, nó mang đặc thù riêng của môn học, do đó các năng lực chuyên biệt: năng lực tiếp nhận văn bản và năng lực tạo lập văn bản - năng lực thưởng thức văn học/cảm thụ thẩm mĩ là những năng lực đóng vai trò quan trọng trong việc xác định các nội dung dạy học của môn học

Quá trình dạy học Ngữ văn đồng thời giúp học sinh hình thành và phát triển các năng lực, đáp ứng với các yêu cầu phát triển của xã hội, thông qua việc rèn luyện và phát triển các kỹ năng đọc, viết, nghe, nói. Với đặc trưng của môn học, môn Ngữ văn triển khai các mạch nội dung bao gồm các phân môn Văn bản, Tiếng Việt,  Tập làm văn, nhằm hướng dẫn học sinh đọc hiểu các văn bản và tạo lập được các văn bản theo các kiểu loại khác nhau.

Trong quá trình hướng dẫn học sinh tiếp xúc với văn bản, môn Ngữ văn giúp học sinh từng bước hình thành và nâng cao các năng lực học tập của môn học, cụ thể là năng lực tiếp nhận văn bản (gồm kĩ năng nghe, đọc) và năng lực tạo lập văn bản (gồm kỹ năng nói và viết). Năng lực đọc - hiểu văn bản của học sinh thể hiện ở khả năng vận dụng tổng hợp các kiến thức về Tiếng Việt, về các loại hình văn bản và kỹ năng, phương pháp đọc, khả năng thu thập các thông tin, cảm thụ cái đẹp và giá trị của tác phẩm văn chương nghệ thuật.

Năng lực tạo lập văn bản của học sinh thể hiện ở khả năng vận dụng tổng hợp kiến thức về các kiểu văn bản, với ý thức và tình yêu tiếng Việt, văn học, văn hóa, cùng kỹ năng thực hành tạo lập văn bản, theo các phương thức biểu đạt khác nhau, theo hình thức trình bày miệng hoặc viết. Thông qua các năng lực học tập của bộ môn để hướng tới các

năng lực chung và các năng lực đặc thù của môn học.

Dạy học theo định hướng phát triển năng lực cho học sinh qua các tiết chương

trình giáo dục địa phương Kon Tum ở bộ môn Ngữ văn 8 nhằm giúp học sinh phát triển các năng lực chung và  năng lực  chuyên biệt của môn Ngữ văn; đồng thời tạo cơ hội cho học sinh tìm hiểu sâu hơn về mảng văn học, văn hóa Kon Tum (một vấn đề lâu nay chương trình môn Ngữ văn đưa vào nhà trường song thực tế còn bỏ ngỏ) giúp các em tự khẳng định năng lực của bản thân, yêu hơn mảnh đất và con người nơi mình đang sinh sống.

  1. Cơ sở lí luận:     

Phương pháp dạy học theo quan điểm phát triển năng lực nói chung,  trong các tiết

chương trình địa phương nói riêng không chỉ chú ý tích cực hóa học sinh về mặt trí tuệ mà còn chú ý rèn luyện năng lực giải quyết vấn đề gắn với những tình huống của cuộc sống cộng đồng và nghề nghiệp, đồng thời gắn hoạt động trí tuệ với hoạt động thực hành, thực tiễn. Tăng cường việc học tập trong nhóm, đổi mới quan hệ giáo viên – học sinh theo hướng cộng tác có ý nghĩa quan trọng nhằm phát triển năng lực xã hội. Bên cạnh việc học tập những tri thức và kỹ năng riêng lẻ của các môn học chuyên môn cần bổ sung các chủ đề học tập phức hợp nhằm phát triển năng lực giải quyết các vấn đề phức hợp.

Những định hướng chung, tổng quát về đổi mới phương pháp dạy học các môn học thuộc chương trình giáo dục định hướng phát triển năng lực là:

– Phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động của người học, hình thành và phát triển năng lực tự học (sử dụng sách giáo khoa, nghe, ghi chép, tìm kiếm thông tin, tư liệu tại địa phương Kon Tum…), trên cơ sở đó trau dồi các phẩm chất linh hoạt, độc lập, sáng tạo của tư duy.

– Có thể lựa chọn một cách linh hoạt các phương pháp chung và phương pháp đặc thù của môn học để thực hiện. Tuy nhiên dù sử dụng bất kỳ phương pháp nào cũng phải đảm bảo được nguyên tắc:  “Học sinh tự mình hoàn thành nhiệm vụ nhận thức với tổ chức, hướng dẫn của giáo viên”.

– Việc sử dụng phương pháp dạy học gắn chặt với hình thức dạy học. Tùy theo mục tiêu, nội dung, đối tượng và điều kiện cụ thể mà có những hình thức tổ chức thích hợp như học cá nhân, học nhóm; trong lớp học, ngoài lớp học…

– Cần phải sưu tầm tư liệu, tài liệu có liên quan đến bài học. Tích cực vận dụng công nghệ thông tin trong dạy học.

* Các năng lực mà môn học Ngữ văn hướng đến:
+ Năng lực tự học.

+ Năng lực giải quyết vấn đề.
+ Năng lực sáng tạo.
+ Năng lực hợp tác.
+ Năng lực giao tiếp tiếng Việt.

+ Năng lực sử dụng công nghệ thông tin và truyền thông.
+  Năng lực tạo lập và tiếp nhận văn bản (năng lực thưởng thức văn học/cảm thụ thẩm mĩ).

* Những yêu cầu cần có trong một tiết học:

+ Phát huy tối đa các năng lực trong giờ học cho học sinh

+ Tạo không khí hào hứng, thoải  mái, tự nhiên cho học sinh trong giờ học.

+ Phát hiện năng lực chuyên biệt của học sinh

+ Phát triển năng lực, phẩm chất học sinh thông qua phương pháp thảo luận nhóm

+ Phát triển năng lực, phẩm chất học sinh thông qua phương pháp tổ chức trò chơi

+ Phát triển năng lực, phẩm chất học sinh qua khả năng phản biện

  2. Thực trạng:  

    Từ thực tế giảng dạy tại Trường THCS Nguyễn Công Trứ từ khi thành lập trường đến nay, chúng tôi nhận thấy sự sáng tạo trong việc đổi mới phương pháp dạy học, phát huy tính tích cực, tự học của học sinh  ở môn Ngữ văn nói chung, các tiết giáo dục địa phương Kon Tum nói riêng chưa nhiều. Dạy học vẫn nặng về truyền thụ kiến thức. Việc rèn luyện kỹ năng chưa được quan tâm. Hoạt động kiểm tra, đánh giá chưa thực sự khách quan, chính xác (chủ yếu tái hiện kiến thức), chú trọng đánh giá cuối kì chưa chú trọng đánh giá quá trình. Tất cả những điều đó dẫn tới học sinh học còn thụ động, lúng túng khi giải quyết các tình huống trong thực tiễn. Điều đó thể hiện ở những tồn tại sau:

- Việc vận dụng các phương pháp và kỹ thuật dạy học tích cực còn mang tính
hình thức. Phương pháp thảo luận nhóm được tổ chức ở các tiết học chương trình địa phương chủ yếu vẫn dựa vào một vài cá nhân học sinh tích cực tham gia, các thành viên còn lại còn dựa dẫm, ỷ lại, chưa thực sự chủ động. Mục đích của thảo luận nhóm chưa đạt được tính dân chủ, mọi cá nhân được tự do bày tỏ quan điểm, thói quen bình đẳng, biết đón nhận quan điểm bất đồng để hình thành quan điểm cá nhân.

- Mặc dù đã có giáo viên thực hiện thay đổi phương pháp dạy học, thay đổi
cách thức tổ chức giờ nhằm đạt mục tiêu dạy học theo định hướng phát triển năng lực cho học sinh  song kết quả chưa đạt được như mong muốn mà nguyên
nhân là:

+ Về phía giáo viên: Việc đổi mới phương pháp dạy học cũng không được
thực hiện một cách triệt để, vẫn còn nặng về phương pháp truyền thống, có đổi mới song chỉ dừng lại ở hình thức, chưa đi sâu vào thực chất nhằm giúp khai thác kiến thức một cách có chiều sâu; việc hiểu hết bản chất của nhóm năng lực chung và năng lực chuyên biệt ở môn Ngữ văn ở một vài GV vẫn còn hạn chế.

      Mặt khác, sự hiểu biết về chương trình giáo dục địa Kon Tum ở môn Ngữ văn của một bộ phận giáo viên còn hạn chế do nguồn tư liệu ít, giáo viên lại ít tìm tòi, để tâm đến những tiết dạy này; việc giao nội dung, hướng dẫn cho học sinh thống kê, sưu tầm ở nhà ít được chú trọng.

+ Về phía học sinh: Học sinh ở trường chủ yếu là học sinh vùng nông thôn, học

sinh dân tộc chiếm tỉ lệ gần 40%,  nên việc tiếp cận và tìm tòi những thông tin, tư liệu  phục vụ cho bài học chương trình địa phương còn hạn chế. Một số học sinh chưa có phương pháp học tập phù hợp, chưa tích cực trong việc tìm tòi nghiên cứu bài học nên chưa đảm bảo các năng lực.

 3.  Các giải pháp:

Môn Ngữ văn là một môn có vị trí quan trọng đặc biệt trong nhà trường và đời sống. Nếu nói không quá rằng dạy học môn Ngữ văn tốt thì đó là chìa khóa để mở ra các môn học khác. Dạy các tiết chương trình địa phương đảm bảo phát triển các năng lực chung và năng lực cảm thụ thẩm mỹ cho học sinh là cực kì quan trọng vì không chỉ giúp các em hoàn thành tốt môn học mà còn giúp các em có sự hiểu biết, trải nghiệm thực tế nơi mình đang sinh sống, giúp các em tự tin, khẳng định mình trong đời sống cộng đồng với những nét văn hóa độc đáo, đặc sắc riêng ở Kon Tum.

a. Giáo viên cần nắm rõ, hiểu cặn kẽ từng năng lực chung và năng lực chuyên

 biệt của môn Ngữ văn như đã trình bày trên đây. Phải xác định được trong từng tiết học chương trình giáo dục địa phương phải giúp học sinh phát triển và đạt được những năng lực gì. Thông thường, với tiết Văn bản Tìm hiểu, giới thiệu văn học địa phương Kon Tum thì học sinh phải đạt được nhóm năng lực chung như: năng lực tự học, năng lực giao tiếp, năng lực hợp tác, năng lực giải quyết vấn đề, năng lực sử dụng công nghệ thông tin và truyền thông, năng lực sáng tạo và năng lực tiếp nhận văn bản; với tiết Tiếng Việt thì cơ bản đảm bảo các năng lực chung; với tiết Tập làm văn, ngoài các năng lực chung cần đạt được thì học sinh phải có năng lực tạo lập văn bản theo kiểu bài gắn với địa phương Kon Tum.

b. Giáo viên cần nắm rõ vai trò, vị trí của chương trình giáo dục địa phương

trong chương trình môn học Ngữ văn để những bài học này không bị xem nhẹ hơn những bài học khác trong chương trình sách giáo khoa. Từ đó, giáo viên thiết kế, tổ chức các hoạt động dạy học phù hợp theo định hướng phát triển năng lực cho học sinh qua các tiết học. Trong quá trình dạy học, giáo viên cần chuyển giao nhiệm vụ học tập linh hoạt cho học sinh, giúp các em hứng thú, yêu thích khi học các tiết chương trình địa phương.

         Đối với môn Ngữ văn nói chung, khi dạy các tiết chương trình giáo dục địa phương Kon Tum nói riêng, khâu dặn dò , hướng dẫn về nhà là rất cần thiết. Giáo viên cần hướng dẫn kĩ càng, cung cấp nguồn tư liệu cụ thể  để học sinh sưu tầm, tìm hiểu, thống kê; hướng dẫn cả cách làm cho học sinh. Ví dụ:

- Khi dạy bài: Tìm hiểu, giới thiệu văn học viết địa phương trước năm 1975, giáo viên nên cung cấp, hướng dẫn cho học sinh sưu tầm các tài liệu liên quan sau:

+ Từ nhà đày Hà Tĩnh đến ngục Kon Tum - Ngô Đức Đệ

+ Kon Tum thơ - Tạ Văn Sỹ

+ Tuyển tập thơ Kon Tum (1930 - 1998) - Tạ Văn Sỹ

+ Đồng bào dân tộc thiểu số trong thơ ca Kon Tum (1945 - 1975) - Tạ Văn Sỹ

+ Di sản văn học từ ngục Kon Tum - Tạ Văn Sỹ.

+ Cánh hạc Trường Sơn - Nguyễn Tập.

+ Làng hồ;  Kon Tum tỉnh chí - Võ Chuẩn

+ Người Bahnar ở Kon Tum - Nguyễn Kỉnh Chi và Nguyễn Đổng Chi

+ Ngục Kon Tum - Lê Văn Hiến

     Mảng văn học viết ở Kon Tum cho đến nay còn ít tư liệu nên nếu có thể giáo viên cung cấp những tư liệu này cho học sinh trước khoảng một, hai tuần (dạy học theo dự án, hoạt động trải nghiệm sáng tạo cho học sinh), phân công nội dung theo nhóm, động viên các em, đưa yêu cầu cụ thể để học sinh thực hiện thì mới có hiệu quả. Phần tìm hiểu bài thơ Bóng cây kơ-nia của Ngọc Anh thì giáo viên nên giao nhiệm vụ cho cả lớp.

- Khi dạy bài: Tìm hiểu văn bản thuyết minh về văn hóa lễ hội của các dân tộc bản địa ở Kon Tum, giáo viên nên yêu cầu học sinh tìm hiểu ở các nghệ nhân, hỏi cộng đồng, tìm kiếm thông tin trên các vvebsite, báo chí địa phương ... sau đó trả lời theo hệ thống câu hỏi ở Tài liệu giáo dục địa phương tỉnh Kon Tum.

 c. Khi lên lớp, giáo viên cần chú trọng  đổi mới phương pháp dạy học một cách triệt để,   dạy học theo định hướng phát triển năng lực cho học sinh. Cần xác định rõ năng lực mà học sinh phải hướng đến và đạt được qua từng tiết học.

d. Một số giáo án cụ thể các tiết chương trình địa phương Kon Tum ở môn Ngữ văn 8 theo quan điểm: dạy học theo định hướng phát triển năng lực cho học sinh

* Giáo án tiết Tập làm văn:

 

Ngày soạn:                                                                                        Tiết: 92

Ngày dạy:                                                                                                Tuần: 25

                      TẬP LÀM VĂN:     CHƯƠNG TRÌNH ĐỊA PHƯƠNG

TÌM HIỂU VĂN BẢN THUYẾT MINH VỀ VĂN HÓA LỄ HỘI

CỦA CÁC DÂN TỘC BẢN ĐỊA Ở KON TUM

A. Mục tiêu: Giúp HS

1, Kiến thức:

- Nắm được các lễ hội cơ bản trong đời sống cộng đồng của các dân tộc bản địa ở Kon Tum.

- HS hiểu được nội dung, ý nghĩa, giá trị văn hóa của các lễ hội trong đời sống cộng đồng của các dân tộc bản địa ở Kon Tum .

2, Kĩ năng:

- Các bước chuẩn bị và trình bày văn bản thuyết minh về văn hóa, lễ hội của các dân tộc bản địa ở Kon Tum.

 - Quan sát, tìm hiểu, nghiên cứu,… về đối tượng thuyết minh (văn hóa, lễ hội của các dân tộc bản địa ở Kon Tum.)

- Kết hợp các phương pháp, các yếu tố miêu tả, biểu cảm, tự sự, nghị luận để tạo lập một văn bản thuyết minh có độ dài 300 chữ.

3, Giáo dục:

 - Nắm vững phương pháp về kiểu bài TM về di tích lịch sử. danh lam thắng cảnh để tìm ý, lập dàn ý, viết đoạn văn giới thiệu về văn hóa, lễ hội của các dân tộc bản địa ở Kon Tum.

- Biết quý trọng và giữ gìn giá trị văn hóa của các lễ hội trong đời sống sinh hoạt cộng đồng.

 4. Năng lực:

  - Tự học, giao tiếp, hợp tác, giải quyết vấn đề, sử dụng công nghệ thông tin và truyền thông.

  - Tiếp nhận và tạo lập văn bản thuyết minh về văn hóa lễ hội của các dân tộc bản địa ở Kon Tum.

B. Chuẩn bị:

- HS : Chuẩn bị như phần dặn dò ở tiết 91 (Quan sỏt, tỡm hiểu, nghiên cứu, ... về các vấn đề văn hóa lễ hội của các dân tộc bản địa ở Kon Tum qua cộng đồng, nghệ nhân tại địa phương, báo chí, vvebsite, ...).

- GV: Chuẩn bị những kiến thức cần thiết để bổ sung cho HS

C. Tiến trình lên lớp:

1. ổn định lớp

2. Bài mới

* Khởi động

- GV nêu mục đích, nội dung và ý nghĩa của bài học.

- GV kiểm tra phần chuẩn bị bài của HS

 

                  Hoạt động của thầy và trò

                          Nội dung

*Hoạt động 1:  Hướng dẫn HS tìm hiểu thông tin về các lễ hội truyền thống của người dân tộc thiểu số ở Kon Tum   - Năng lực tự học, giao tiếp, hợp tỏc, giải quyết vấn đề, sử dụng cụng nghệ thụng tin và truyền thụng

(Hoạt động trải nghiệm sỏng tạo).

- HS trao đổi, thống nhất trong nhóm 5’ bảng “Tổng hợp thông tin về những lễ hội truyền thống ở địa phương”

-> Đại diện nhóm lên thuyết trình:

H. Nêu tên các lễ hội truyền thống của người dân tộc thiểu số ở địa phương?

H. Nêu ý nghĩa của lễ hội truyền thống trong đời sống của người dân tộc thiểu số?

H. Nêu những việc cần làm để bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa của các lễ hội truyền thống này?

-> HS nhận xét, bổ sung.

GV: Trong hệ thống các lễ thức này, từ chọn đất đến thu hoạch lúa, quy mô thường nhỏ, lẻ ở phạm vi gia đỡnh; cũn lễ hội cúng lúa mới và lễ mở cửa kho lúa là lễ hội lớn của cộng đồng. Đây là nghi thức đánh dấu sự kết thúc của một chu trỡnh sản xuất nông nghiệp, đồng thời cũng là sự mong muốn, chuẩn bị các điều kiện, phương tiện và tinh thần cho công việc sản xuất của mựa sau. Chính vì lẽ đó nên cộng đồng dành cho lễ hội này sự quan tâm đặc biệt. Ở đó tập trung, chứa đựng, chuyên chở những giá trị văn hóa đặc sắc - văn hóa tâm linh, văn hóa xã hội, văn hóa nghệ thuật và những khuôn mẫu ứng xử xã hội - cộng đồng sâu sắc.

   Lễ hội cộng đồng được tổ chức khi có những sự kiện, những biến động to lớn ảnh hưởng đến sự hưng vong của cả cộng đồng như : Lễ hội mừng chiến thắng, lễ hội cúng bến nước, lế hội mừng nước giọt, lễ hội mừng nhà rông mới … những lễ hội này thường có tục lệ dâng vật hiến sinh như đâm trâu, dê, heo, gà; các dân tộc thiểu số đều có lễ kiêng làng, nghi lễ này được tổ chức khi có cháy nhà, bệnh dịch lớn làm chết nhiều người và gia súc, bị sét đánh, có người chết sông chết suối, tai nạn... Khi đó người ta rào làng - nội bất xuất, ngoại bất nhập. Trước lễ người ta tắt hết lửa cũ trong bếp của các gia đỡnh và để cộng đồng chuẩn bị mọi điều kiện cho lễ hội.

*Hoạt động 2: HDHS tìm hiểu văn bản thuyết minh về lễ hội (Năng lực tiếp nhận văn bản thuyết minh).

- Gọi hs đọc bài văn “Lễ hội mừng lúa mới của dân tộc Xơ-đăng nhánh Xơ-teng ở huyện Đăk Tô”

H. Hãy tóm tắt các thông tin của lễ hội về:

- Thời gian.

- ý nghĩa

- Diễn biến

H. Bài viết có mấy đoạn? Nêu ý chính của mỗi đoạn và nhận xét cách sắp xếp trật tự các đoạn trong văn bản trên?

H. Kể lại những việc làm của dân làng trong giai đoạn thứ nhất Ka pa neo (ăn lúa mới tại gia đình)? Nêu ý nghĩa của những việc làm này?

*Hoạt động 3: HDHS  viết văn bản thuyết minh về lễ hội (Năng lực tạo lập văn bản thuyết minh).

- GV hướng dẫn hs tìm hiểu thông tin về một lễ hội, xây dựng dàn ý, lập kế hoạch viết bài văn thuyết minh dựa trên những diễn biến chính của lễ hội.

- Giỏo viờn yờu cầu học sinh về nhà làm, thu bài vào tuần tiếp theo.

I. Thông tin về các lễ hội truyền thống của người dân tộc thiểu số ở Kon Tum.

- Lễ chọn đất

- Lễ phát rẫy

- Lễ tỉa lúa

- Lễ mừng lúa mới

- Lễ thu hoạch lúa

- Lễ mở cửa kho lúa

- Lễ hội mừng năm mới…

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

II. Tìm hiểu văn bản thuyết minh về lễ hội.

   Tìm hiểu bài văn “Lễ hội mừng lúa mới của dân tộc Xơ-đăng nhánh Xơ-teng ở huyện Đăk Tô”

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

III. Viết văn bản thuyết minh về một lễ hội ở địa phương

 

3. Củng cố:

- Em có suy nghĩ gì về một số lễ hội ở Kon Tum? Em sẽ làm gì để xứng đáng là người con của mảnh đất quê hương?

- GV đánh giá tiết học : về sự chuẩn bị, hoạt động học tập trên lớp, hiệu quả của tiết học

4. Dặn dò:

* Học bài cũ:

- Nắm vững thể loại thuyết minh nói chung và từng dạng bài thuyết minh nói riêng

- Học lại bài ''Chiếu dời đô'' (Tác giả, thể loại, nội dung, nghệ thuật bài chiếu)

* Chuẩn bị:

- Ôn lại lịch sử thời nhà Trần (lớp 7),

- Đọc kĩ và tìm hiểu bài ''Hịch tướng sĩ'' (nắm hoàn cảnh lịch sử, tác giả,  thể loại, bố cục, soạn hệ thống câu hỏi trong SGK)

D. Rút kinh nghiệm - bổ sung:

 * Giáo án tiết Tiếng Việt:

Ngày soạn:                                                                                           Tiết: 121

Ngày dạy:                                                                                            Tuần: 33

                                              CHƯƠNG TRÌNH ĐỊA PHƯƠNG:  

TÌM HIỂU CÁC TỪ NGỮ THUỘC CÁC LĨNH VỰC VĂN HÓA LỄ HỘI CỦA CÁC DÂN TỘC BẢN ĐỊA  Ở KON TUM

A. Mục tiêu: 

1. Kiến thức:

- Hiểu được các từ ngữ thuộc các lĩnh vực văn hóa, lễ hội của các dân tộc bản địa ở Kon Tum

2. Kỹ năng:

- Tìm hiểu, ghi chép giải thích các từ ngữ đó.

- Viết đoạn văn suy nghĩ về văn hóa, lễ hội của các dân tộc bản địa ở Kon Tum.

3, Giáo dục:

  Tập tìm hiểu các từ ngữ thuộc các lĩnh vực văn hóa, lễ hội của các dân tộc bản địa ở Kon Tum; biết giữ gìn phát huy bản sắc văn hóa ở quê hương.

4. Năng lực:

  - Tự học, giao tiếp, hợp tác, giải quyết vấn đề, sử dụng công nghệ thông tin và truyền thông.

B. Chuẩn bị:

- Giáo viên: - Tham khảo tiếng dân tộc bản địa, tranh ảnh minh họa, các lễ hội.

- Học sinh:  - Tỡm hiểu các lễ hội, tên vật dụng trong lễ hội.

                    - Sưu tầm một số vật dụng ứng với tên gọi: chiêng, cồng, gùi, ...  

C. Tiến trình lên lớp:

1, Kiểm tra bài cũ

2, Bài mới:

* Khởi động: Hoạt động trải nghiệm sáng tạo

H  Kể tên một số vật dụng của người dân tộc mà em biết.

H Trong lễ hội người dân tộc thường dùng vật dụng gì? Tên gọi vật dụng bằng tiếng dân tộc?

- GV giải thích thêm một số từ ngữ -> vào bài

 

HĐ1: H.dẫn HS tìm hiểu một số vật dụng của người Tây Nguyên

(Năng lực tự học, giao tiếp, hợp tác, giải quyết vấn đề, sử dụng công nghệ thông tin và truyền thông).

- Trên cơ sở kết quả sưu tầm được các vật dụng, các tổ trỡnh bày kết quả; phát vấn - phản biện.

H. Hóy so sánh sự khác nhau giữa bộ chiêng của người Brâu và chiêng của người Giẻ-Triêng?

 

 

 

H. Vật dụng  gắn bó người dân tộc là vật dụng gì? Hãy nên những hiểu biết của em về các loại  gùi?

- Gọi HS nhận xét - bổ sung. GV chốt ý đúng.

 

 

 

 

 

 

 

HĐ2: H.dẫn HS tìm hiểu tên gọi và ý nghĩa cột lễ hội (Năng lực tự học, giao tiếp, hợp tác, giải quyết vấn đề, sử dụng công nghệ thông tin và truyền thông).

H. Trong lễ hội em quan sát sẽ có cây cột thiêng của người dân tộc.Vậy em hiểu gì về cây cột thiêng?

H. Em hãy cho biết cột thiêng trong lễ hội tiếng Ba-na, tiếng Xê-đăng, tiếng Brâu, tiếng Gié-Triêng gọi là gì?

H. Hãy so sánh cây cột thiêng và cây nêu của người kinh?

* Giống nhau: thân cột chính làm bằng tre tương đối cao được dựng trong lễ hội truyền thống.

* Khác nhau: cây nêu được dựng trước nhà hoặc đình,chuà trong tết Nguyên Đán, trên ngọn tre treo mảnh vải màu vàng tượng trưng cho áo của Phật.Cây nêu của người kinh có ý nghĩa xua đuổi quỷ,đánh dấu đây là đất của người.

HĐ3: H.dẫn HS tìm hiểu tên gọi, ý nghĩa các lễ hội chính (Năng lực tự học, giao tiếp, hợp tác, giải quyết vấn đề, sử dụng công nghệ thông tin và truyền thông).

H. Hãy kể tên các lễ hội mà em biết.Nêu ý nghĩa của các lễ hội đó.

 

GV:  giới thiệu một số cảnh lễ hội và cảnh sinh hoạt cộng đồng của bà con dân tộc Tây Nguyên cho học sinh nghe.

H. Nêu cảm nhận của em về con người Tây Nguyên nói chung và người dân tộc thiếu số Kon Tum nói riêng?

(Giáo dục lòng tự hào, ý thức giữ gìn nền văn hóa của dân tộc)

- GV cho học sinh hát những bài hát ca ngợi về Kon Tum.

I/ Tên một số vật dụng quan trọng trong đời sống của người dân Tây Nguyên

1. Các loại chiêng

*Bộ chiêng tha của người Brâu.

- Có hai chiếc: jơ liêng (chồng) và chuar (vợ).

- Dùi chiêng tha có hai cái (dùi đực và dùi cái)

- Đánh chiêng gọi tha pơi.

* Bộ chiêng của người Giẻ-Triêng.

- Có 4 chiếc: 3 chiêng và một ống nứa. Bộ chiêng này biểu tượng cho một gia đỡnh gồm: ko, kon, tray, sao (ông, cha, con trai và con rể). Trong đó ống nứa là con rể.

2. Các loại  gùi của người Ba-na

- Jóp: là loại gùi thưa đan bằng tre nứa chắc khỏe. Dùng đựng bắp, củi, hoặc đựng bầu ra suối lấy nước.

- Reo: là gùi thân tròn xinh, đan dày bằng mây, tre. Loại gùi này được các cô gái dùng đi chợ, hái rau hoặc là vật dụng các chàng trai làm quà tặng.

- Hơkă: là loại gùi đan dày,có nắp loại gùi này để vận chuyện lúa gạo hoặc quần áo,tư trang. Loại gùi này được trang trí hoa văn.

- Krôh: gùi đan dày, thân vuông, vát phía trên nhỏ gọn chắc chắn dùng để đi săn.

=> Vật dụng thiết yếu gắn với đời sống sinh hoạt của dân tộc thiểu số Tây nguyên. Là vật gửi gắm tâm tư tình cảm là dấu hiệu cho biết phẩm chất của người làm ra nó và người sử dụng nó.

II/ Ý nghĩa cột thiêng của người dân tộc thiểu số Kon Tum

* Cột  thiêng:

+ Tiếng Ba-na gọi là gưng (gưng sa kapô)

+ Tiếng Xê-đăng gọi là luông gapô

+ Tiếng Brâu gọi là kang kpưa

+ Tiếng Gié-Triêng gọi là gưng

- Được dựng trước nhà rông của làng, là tâm điểm của lễ hội, trang trí cầu kì, là cầu nối giữa con người với thần linh trên trời.

- Các vật hiến sinh: Trâu lợn gà được buộc ở đây để cắt tiết vẩy xung quanh cột làm phép cầu mong cho dân làng được bình yên, khỏe mạnh đủ thóc lúa.

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

III/ Tên gọi, ý nghĩa các lễ hội chính của người dân tộc bản địa Kon Tum

- Lễ hội về mùa màng, lễ hội mừng lúa mới.

-> í nghĩa: mừng có nguồn lương thực mới, tạ ơn thần linh đó bảo vệ mùa màng cho lúa tốt tươi.

- Lễ hội về nguồn nước: lễ hội nước ngọt, lễ hội làm máng nước.

->Ý nghĩa: tìm nguồn nước sinh hoạt tự nhiên khơi thông làm máng nước dùng chung cho làng,cầu xin thần linh giữ cho nguồn nước dồi dào, không khô hạn.

- Lễ hội năm mới: lễ hội mừng năm mới.

-> Ý nghĩa: mừng năm mới sinh hoạt cộng đồng vui vẻ đoàn kết cầu mong năm mới may mắn, bỡnh an, no ấm.

- Lễ hội định cư: lễ hội ăn trâu mừng nhà rông mới.

-> Ýnghĩa: mừng nơi ở mới, có nhà rông mới hoặc làm lại nhà rông, hiến sinh đề cầu xin thần linh phù hộ cho dân làng khỏe mạnh cuộc sống no ấm.

 3. Củng cố:

H: Em rút ra điều gì sau khi học tiết CTĐP?

- GV đánh giá tiết học: về sự chuẩn bị ở nhà của HS, hoạt động học tập ở trên lớp, về sự tiếp thu, nắm bắt những kiến thức ở địa phương; bài học cho bản thân.

4, HD về nhà:

- Lập dàn ý cho một bài văn viết về vấn đề của đời sống: Vấn đề bảo vệ môi trường ở trường học, địa phương.

- Đọc kĩ và chuẩn bị bài: “Chữa lỗi diễn đạt ( lỗi logic)". Xem lại bài TLV số 6 - tìm ra những lỗi về diễn đạt- sửa lại)

4. Kết luận:

Trên đây là một số giải pháp mà chúng tôi đó thường xuyên vận dụng vào quá trình giảng dạy các tiết chương trình địa phương ở bộ môn Ngữ văn 8. Khi dạy học theo định hướng phát triển năng lực, học sinh học tập thoải mái, hứng thú hơn bởi học sinh có cơ hội được tự khẳng định mình, tự hiểu bản thân mình hơn. Việc hiểu biết về văn học, văn hóa nơi các em đang sinh sống giúp các em cảm thấy tự hào, yêu hơn nơi mình sinh ra và lớn lên. Điều đặc biệt là qua các tiết học này chúng tôi nhận thấy các nhóm năng lực chung và năng lực chuyên biệt ở môn Ngữ văn được khẳng định, bộc lộ ở từng học sinh.

      Chương trình giáo dục địa phương là một nội dung quan trọng, cần thiết đối với mỗi học sinh. Đó là những tiết học bắt buộc trong chương trình giáo dục phổ thông tổng thể giúp đưa các em trở về, hiểu biết về nơi mình đang sinh sống. Cùng với phương pháp dạy học theo định hướng phát triển năng lực ở những tiết học này mang lại hiệu quả vô cùng to lớn.

      Dạy học theo định hướng phát triển năng lực người học được xem như một nội dung giáo dục, phương pháp giáo dục hiện đại trong xu thế đổi mới căn bản và toàn diện Giáo dục và Đào tạo hiện nay. Điểm khác nhau giữa cách dạy này so với các phương pháp dạy học trước đây là ở chỗ dạy học phát triển phẩm chất, năng lực người học có yêu cầu cao hơn, mức độ khó hơn, đòi hỏi người dạy phải có phẩm chất, năng lực giảng dạy nói chung cao hơn trước đây.

       Điều quan trọng hơn cả là nếu so sánh với các quan niệm dạy học trước đây, việc dạy học phát triển phẩm chất, năng lực sẽ làm cho việc dạy và việc học được tiếp cận gần hơn, sát hơn với mục tiêu hình thành và phát triển nhân cách con người.

         Thiết nghĩ, với sự chủ động của GV trong việc tạo ra hệ thống câu hỏi, qua ứng

dụng công nghệ thông tin, gắn với việc linh hoạt vận dụng các phương pháp thích ứng có tích hợp kiến thức cũ và mới, và nhất là sự chủ động đưa vào các cách thức giáo dục kĩ năng sống... chắc chắn hiệu quả giáo dục sẽ được cải thiện. Với học sinh, khi đó chuẩn bị kỹ bài ở nhà, đến lớp chủ động, tích cực xây dựng bài và nhất là chủ động trong việc rèn luyện, vận dụng thực hành, hiệu quả tiết học cũng sẽ khả quan và chất lượng được cải thiện.

         Muốn được như vậy, đối với mỗi giáo viên Ngữ văn phải hiểu biết tường tận, sâu sắc về nội dung giáo dục địa phương Kon Tum trong môn Ngữ văn để có thể thiết kế nội dung, tổ chức các hoạt động dạy học hiệu quả; có những nhận xét, đánh giá chính xác kết quả học sinh sưu tầm, tra cứu, tham khảo được. Ngoài Tài liệu giáo dục địa phương Kon Tum (sách giáo viên và học sinh), giáo viên nên trang bị cho mình những quyển sách, tư liệu cần thiết để giới thiệu cho học sinh, tự tin hơn khi lên lớp khi dạy các tiết chương trình giáo dục địa phương thì mới có thể dạy học theo định hướng phát triển năng lực cho học sinh.

**********************************************

    

 

Bài tin liên quan
Chính phủ điện tử
Tin đọc nhiều
Liên kết website
Thống kê truy cập
Hôm nay : 88
Hôm qua : 105
Tháng 02 : 1.316
Năm 2020 : 2.993