Monday, 17/02/2020 - 14:17|
Chào mừng bạn đến với cổng thông tin điện tử của Trường THCS Nguyễn Công Trứ

THAM LUẬN về những giải pháp nâng cao chất lượng học tập của các em HS Năm học: 2019-2020

THAM LUẬN

về những giải pháp nâng cao chất lượng học tập của các em HS

Năm học: 2019-2020

I/ Một vài nguyên nhân HS học yếu:

* Về phía HS và phụ huynh:

- Hiện nay, đa số HS yếu chưa xác định được động cơ học tập đúng đắn, chưa có ý thức học tập như:

+ Không tập trung trong giờ học, nói chuyện với bạn bên cạnh, không theo dõi ghi chép bài vào vở. Có em thì học bài môn học sau ngay trong tiết học trước.

+ Đa số HS không học bài cũ, không nghiên cứu bài mới trước khi đến lớp. Nếu có soạn bài thì soạn bài theo hình thức chép từ sách giải để đối phó với ban cán sự lớp hoặc GVBM.

+ Kiến thức cũ yếu, các em không theo kịp bài học nên các em thiếu tự tin tham gia xây dựng bài dần dần các em quên đi việc phát biểu xây dựng bài hoặc đôi lúc hiểu bài muốn phát biểu nhưng cứ ngại nói, dần dần tạo thành thói quen, thiếu sự năng động, sáng tạo. Điều này kiềm hãm tính thích thú đối với việc học của các em.

+ Thường hay ỷ lại, dựa dẫm vào bạn bè trong kiểm tra, thi cử.

+ Nhiều học sinh không biết cách phân chia thời gian biểu học bài tại nhà cho hợp lí, thường tập trung môn này thì bỏ học môn kia…Thầy cô yêu cầu học gì thì học nấy, không chủ động tìm tòi học thêm.

+ Suy nghĩ chủ quan: thầy cô dò bài rồi nên không cần học nữa, từ suy nghĩ này từng ngày các em tạo ra lỗ hỏng kiến thức rất lớn.

+ Mặc dù đầu năm học nhà trường đã triển khai cho HS mươn SGK nhưng HSkhông mang sách khi đến lớp, nhất là học sinh nam người dân tộc thiểu số.

+ Trong hoạt động học nhóm, cặp đôi thì thiếu tự tin trong việc đóng góp ý kiến với bạn bè, thụ động trong hoạt động nhóm. Có em không tham gia học tập cùng với nhóm.

- Một số phụ huynh HS chưa quan tâm chưa đúng mực đến việc học của con, việc theo dõi, nhắc nhở con em học bài ở nhà chưa thường xuyên vì một số lí do như đi làm xa, hoặc có phụ huynh trình độ còn hạn chế nên khó khăn trong việc kiểm tra bài ở nhà của học sinh.

* Về phía GV và chương trình sách giáo khoa:

- GV đôi lúc nóng tính, thiếu tính mềm dẻo. Đôi lúc nội dung bài dạy dài, nên ảnh hưởng đến thời gian quan tâm đồng bộ đến từng học sinh trong lớp.

- Đôi lúc áp dụng phương pháp dạy học theo định hướng năng lực của học sinh chưa phù hợp đối với một vài tiết dạy do lượng kiến thức của bài nhiều nên thời gian rèn kĩ năng cho học sinh còn ít.

            II/ Một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng giảng dạy:

- Trước hết bản thân mỗi GV đứng lớp phải có niềm say mê,nhiệt tình, có tình yêu thương đối với học trò, không ngại khó. Cố gắng kiểm soát tính nóng giận, tạo tâm lí thỏai mái cho HS.

- GVBM phải tăng cường nâng cao kiến thức chuyên môn, kiến thức về CNTT, cập nhật kiến thức bổ sung để tạo chiều sâu và sự sinh động cho bài dạy và tạo hứng thú cho HS.

- Tăng cường tính tập trung vào bài học của học sinh bằng cách chủ động gọi học sinh trả lời dù học sinh không phát biểu. Để các em phải quan tâm, theo dõi bài học và rèn luyện tính tự tin, tích cực cho bản thân. Kích thích hứng thú học tập qua phương pháp dạy học: GV có thể vận dụng và phối hợp linh hoạt các phương pháp dạy học như phương pháp phát hiện giải quyết vấn đề vấn đáp, sử dụng bản đồ tư duy, luyện tập, thực hành.., tăng cường các hoạt động độc lập của HS trong giờ học, tăng cường tự học, tự tìm hiểu, thực hành thông qua trò chơi.

- Thường xuyên nhắc nhở các em học bài cũ, soạn bài mới và kiểm tra việc học cũng như chuẩn bị của các em bằng nhiều cách có thể dò bài nhiều lần, hoặc phân công HS tự kiểm tra chéo lẫn nhau và báo kết quả về GVBM…

- Trong quá trình dạy, câu hỏi đưa ra phải phù hợp trình độ học sinh khá, giỏi, trung bình hay yếu kém. Tuy nhiên, đôi lúc các câu hỏi đưa ra chung cho cả lớp là những câu hỏi dễ để lớp thảo luận chung mục đích việc này là lôi kéo, kích thích các em HS yếu kém tham gia bài học để các em có cảm giác mình cũng giống các bạn khác làm được câu này, trả lời được câu kia….điều này giúp các em thoát khỏi vỏ bọc e dè, trốn tránh.

- Khi giao việc về nhà cho học sinh yêu cầu có sản phẩm nộp vào hôm sau thì nhắc nhở học sinh hoàn thành ở nhà. Phân công lớp trưởng thu sản phẩm ngay từ đầu buổi tránh tình trạng học sinh làm việc này ngay trong giờ học khác.

- Kiểm tra đột xuất vở ghi của học sinh và theo dõi sự tiến bộ trong các lần kiểm tra.

- Thay vì kiểm tra miệng trong mỗi tiết học tốn thời gian từ 5’ đến 7’  cho 1 đến 2 em HS thì cũng bằng thời gian đó kiểm tra viết toàn lớp với nội dung kiến thức cơ bản của tiết học trước để theo dõi sự tiến bộ của học sinh đồng thời làm cho học sinh bỏ đi suy nghĩ mình đã có điểm KT miệng rồi thì thầy cô sẽ ko kiểm tra nữa mà để kiểm tra các bạn khác. Tránh tình trạng thường xuyên không học bài dẫn đến bị hổng kiến thức.

 – Chú ý đến đánh giá đồng đẳng nếu là kết quả học tập nhóm để có sự công bằng giữa các học sinh trong nhóm.

- Đối với bộ môn toán: quá trình dạy cần được tiến hành theo 4 giai đoạn như sau:

Giai đoạn 1: Quan sát, tiếp thu

  - Giáo viên giúp học sinh nắm kiến thức cơ bản, tối thiểu, cần thiết.

- Giáo viên cần kết hợp vừa giảng vừa luyện, phân tích chi tiết, cụ thể, giúp học sinh hiểu khái niệm không hình thức.

  -Đồng thời với việc cung cấp kiến thức mới là củng cố khắc sâu thông qua ví dụ và phản ví dụ. Chú ý phân tích các sai lầm thường gặp.

  - Tổng kết tri thức có trong bài. Đây là giai đoạn khó khăn nhất, giai đoạn làm quen tiến tới hiểu kiến thức mới, đồng thời là giai đoạn quan trọng nhất, giai đoạn cung cấp kiến thức chuẩn cho học sinh. Kinh nghiệm cho thấy khi hoàn thành tốt giai đoạn này học sinh sẽ tiếp thu tốt hơn ở các giai đoạn sau.

Giai đoạn 2: Làm theo hướng dẫn

  - Giáo viên cho ví dụ tương tự học sinh bước đầu làm theo hướng dẫn, chỉ đạo của giáo viên.

  - Học sinh bước đầu vận dụng hiểu biết của mình vào giải toán. Giai đoạn này thường vẫn còn lúng túng và sai lầm, do học sinh chưa thuộc, chưa hiểu sâu sắc. Tuy nhiên giai đoạn 2 vẫn có tác dụng gợi động cơ cho giai đoạn 3.

Giai đoạn 3: Tự làm theo mẫu

  - Giáo viên ra một bài tập khác, học sinh tự làm theo mẫu mà giáo viên đã đưa ra ở giai đoạn 1 và giai đoạn 2. (Giáo viên tạm đứng ngoài cuộc).

  - Ở giai đoạn này học sinh độc lập thao tác. Học sinh nào hiểu bài thì có thể hoàn thành được bài tập, học sinh nào chưa hiểu bài sẽ còn lúng túng. Giáo viên có thể nắm bắt được việc học tập cũng như mức độ hiểu bài của cả lớp và từng cá nhân thông qua giai đoạn này, từ đó đề ra biện pháp thích hợp cho từng đối tượng. Giai đoạn 3 có tác dụng gợi động cơ trung gian. Giáo viên thường vận dụng giai đoạn này khi ra bài tập về nhà.
Giai đoạn 4: Độc lập làm bài tập

Giáo viên nên ra cho học sinh:

  + Hoặc là một bài tập tương tự khác để học sinh làm ngay tại lớp.

+ Hoặc là bài tập ra về nhà tương tự với bài được học, nhằm rèn luyện kĩ năng.

  +Hoặc là bài kiểm tra thử.

            Giai đoạn này có tác dụng gợi động cơ kết thúc một nội dung dạy học. Giáo viên thường vận dụng giai đoạn này trong kiểm tra.
Đặc biệt GV phải biết điều hành các đối tượng học sinh trong một lớp cùng hoạt động bằng cách giao cho mỗi loại đối tượng một dạng bài tập phù hợp với nhận thức của họ, có như thế giờ học mới sinh động và lôi cuốn.

- Đối với bộ môn Vật lí: Phần lớn các kiến thức Vật lí được rút ra từ thực tiễn, từ các kết quả thí nghiệm. Vì thế trong các tiết dạy một trong những cái cần thiết nhất là sự chuẩn bị của Gv về các đồ dùng dạy học, thí nghiệm vật lí, các thao tác, các bước tiến hành thí nghiệm  của GV cần phải thực hiện theo trình tự để giáo dục tác phong làm việc khoa học, ngăn nắp đồng thời thu được kết quả phù hợp để đi đến kiến thức trọng tâm. Tạo điều kiện cho học sinh tiếp cận với đồ dùng thí nghiệm để các em hứng thú hơn đối với môn học này. Tuy nhiên một số đồ dùng dạy học hiện nay bị hư hỏng có thể thay thế bằng các thí nghiệm ảo giúp học sinh dễ hình dung các hiện tượng Vật lí. Và từ kiến thức đã học giúp học sinh liên hệ thực tiễn, giúp vận dụng các kiến thức đã học để giải thích các hiện tượng tùy theo năng lực của mỗi học sinh.

- Đối với bộ môn Sinh học:  Kích thích hứng thú qua nội dung: cần khai thác nội dung gần với vốn sống, vốn hiểu biết, nhu cầu muốn biết và muốn tìm hiểu của HS: ví dụ: GV có thể sử dụng câu hỏi: tại sao lá cây có màu xanh, vì sao khi chạy nhanh tim sẽ đập mạnh. Kích thích hứng thú học tập qua phương tiện dạy học như tranh ảnh, ĐDDH tự làm, CNTT. Tạo môi trường thân thiện trong lớp học, để học sinh cảm thấy yêu thích khi học bộ môn của mình. Tích hợp, lồng ghép các nội dung một cách phù hợp với địa phương, gần gũi với đời sống nhằm kích thích sự tìm tòi, quan tâm đến sự phát triển của động, thực vật quanh ta.

- Đối với bộ môn Hóa học: GVBM lập danh sách những em học yếu để dạy phụ đạo cho những em học yếu bộ môn. Phân công các bạn học sinh khá để kèm cặp các học sinh yếu, cán sự bộ môn. Ra đề cương ôn tập cho các tiết kiểm tra định kì sớm để học sinh có sự chuẩn bị tốt cho các bài kiểm tra. Ra các bài tập dạng liên hệ thực tế để kích thích học sinh học tập.( Vd: Giải thích các hiện tượng trong thực tế bằng cách vận dụng các kiến thức đã học)

III/ Kết luận:

- Dạy học là công việc lâu dài, vất vả. Do vậy GV ngoài nhiệm vụ truyền đạt kiến thức phải tìm cách thu hút sự tập trung chú ý của HS trong giờ học làm cho giờ học có hiệu quả, phải yêu thương uốn nắn các em từ những việc làm nhỏ nhất.- Quan tâm đồng đều HS trong lớp. Trong mỗi tiết dạy cần nắm bắt tâm lí, năng lực của mỗi học sinh để GV có thể tìm ra thủ thuật phù hợp với từng đối tượng HS. Tạo mọi điều kiện cho các em phát triển điểm mạnh chính là tạo hứng thú cho các em học tốt .

- Đó là giải pháp pháp mà tổ bộ môn thực hiện trong năm học  2018- 2019. Hy vọng những giải pháp nêu ra ở trên sẽ giúp cho các em nhận thấy mình còn khuyết điểm ở chỗ nào mà sửa chữa, áp dụng cách học một cách đúng đắn để giúp các em học tập ngày càng tốt và hiệu quả hơn.

           Chúc sức khỏe đại biểu, và tất cả CĐV. Chúc Hội nghị thành công tốt đẹp.

Tác giả: BNS
Bài tin liên quan
Chính phủ điện tử
Tin đọc nhiều
Liên kết website
Thống kê truy cập
Hôm nay : 92
Hôm qua : 105
Tháng 02 : 1.320
Năm 2020 : 2.997